|
NHỮNG BÀI HỌC KHÔNG BAO GIỜ CŨ
Nguyễn
Văn Cường
Sự
kiện Trung Quốc gây hấn trên biển Đông, mối quan hệ
Việt - Trung đã bắt đầu “nóng” lên từng ngày. “Ôn cố
nhi tri tân” lời tự tình blog xin kể ra đây 3 câu
chuyện xảy ra hơn 7 thế kỷ trước để bạn đọc suy ngẫm.
SỨ THẦN
SÀI THUNG VÀ THÁI ĐỘ CỦA NHÀ TRẦN
Những
năm cuối thế kỷ XIII quan hệ giữa Đại Việt và nhà
Nguyên ngày càng căng thẳng, vua Nguyên Hốt Tất Liệt
nhiều lần xuống chỉ yêu cầu vua Trần Nhân Tông
(1278-1293) sang chầu. Năm Tân Tỵ (niên hiệu Thiệu
Bảo năm thứ 3,1281) vua Nguyên sai sứ thần Sài Thung
(sử cũ gọi là Sài Xuân) sang Đại Việt. Về thái độ
của Sài Thung trong chuyến công sứ này, sách Đại
Việt sử ký toàn thư chép như sau: “Xuân ngạo mạn
vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Quân
sĩ Thiên Trường ngăn lại, Xuân dùng roi ngựa quất họ
bị thương ở đầu. Đến điện Tập Hiền, thấy chăng bày
màn trướng, hắn mới chịu xuống ngựa. Vua sai Quang
Khải đến sứ quán khoản tiếp. Xuân nằm khểnh không ra,
Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn cũng không dậy
tiếp”(1). Trước thái độ ngang ngược
của Sài Thung, danh tướng Trần Quốc Tuấn xin vua
Trần cho được tiếp kiến “tham tán thiên triều”. Cũng
sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Lúc ấy Quốc
Tuấn đã gọt tóc, mặc áo vải. Đến sứ quán, ông đi
thẳng vào trong phòng. Xuân đứng dậy vái chào mời
ngồi. Mọi người đều kinh ngạc, có biết đâu gọt tóc,
mặc áo vải là hình dạng nhà sư phương Bắc. Ông ngồi
xuống pha trà, cùng uống với hắn. Người hầu của Xuân
cầm cái tên đứng sau Quốc Tuấn, chọc vào đầu đến
chảy máu, nhưng sắc mặt Quốc Tuấn vẫn không hề thay
đổi. Khi trở về, Xuân ra cửa tiễn ông”(2).
Trước
thái độ mềm mỏng của chính quyền Đại Việt, Năm Nhâm
Ngọ (1282, niên hiệu Thiệu Bảo, năm thứ 4) vua
Nguyên sai Thượng thư (chức quan ngang bộ trưởng
ngày nay) Lương Tăng sang dụ rằng: “Nếu thật vua
không thân sang chầu được thì phải đem đủ vàng ngọc
sang thay thế mình. Thêm vào đấy phải nộp người hiền
tài, người làm thợ và người phương kỹ (người làm
nghề thầy thuốc, xem bói…- TG) mỗi hạng 2 người”(3).
Vua Trần Nhân Tông liền sai 3 đại thần là Trần Di Ái
(tức Trần Ải, chú ruột mình) và Lê Mục, Lê Tuân sang
chầu vua Nguyên. Nhằm mua chuộc một đội ngũ quan của
Đại Việt làm tay sai cho mình, “vua Nguyên lập Di
Ái làm vua, phong Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân
Trung thư lệnh, rồi sai Sài Xuân đem 1000 quân hộ
tống về nước”(4).
Tức giận
trước thái độ mạo phạm của vua Nguyên, sự phản bội
của đám quần thần Trần Ái Di, vua Trần Nhân Tông sai
quân ra trừng trị lũ phản nghịch. “Trần Ái Di, Lê
Mục và Lê Tuân bị bắt làm lính, riêng sứ thần Sài
Thung bị bắn mù một mắt”(5).
HỘI NGHỊ
DIÊN HỒNG
Sau
thất bại của cuộc xâm lăng lần thứ nhất (1258) và
việc sứ thần Sài Thung bị bắn mù 1 một mắt, nhận
thấy không thể hù dọa được vua quan nhà Trần và cũng
không mua chuộc một bộ phận quân thần phản nghịch
Đại Việt. Cuối năm 1284, quân Mông Cổ quyết định tấn
công xâm lược nước ta lần thứ 2. Thế giặc rất mạnh (nhà
Nguyên vừa bình định xong toàn bộ Trung nguyên nên
cử 60 vạn quân theo hai đường Bắc và Nam - Chiêm
Thành tiến vào nước ta), thế nước lâm nguy. Tháng
Giêng năm 1285 (Giáp Thân, niên hiệu Thiệu Bảo năm
thứ 7), Thái thượng hoàng(6) Trần Thánh
Tông xuống chiếu mở một cuộc hội nghị các bô lão
trên toàn quốc tại điện Diên Hồng (sử cũ gọi là Hội
nghị Diên Hồng). Các vị bô lão suốt cuộc đời chỉ
quen với việc cày cấy nơi ruộng đồng nay bỗng dưng
được triều đình mời tham gia bàn chuyện quốc gia đại
sự thì ai nấy cũng đều khí khái khác thường. Khi
được hỏi thế giặc mạnh như vậy, ta nên hàng hay đánh
“các cụ bô lão đều nói đánh, muôn người một tiếng,
muôn lời như bật ra từ 1 miệng”(7).
Nói về cuộc hội nghị có một không hai trong
lịch sử Việt Nam này, sử gia Ngô Sĩ Liên viết:
“Giặc Hồ(8) vào cướp nước là nạn lớn
nhất của đất nước. Hai vua hiệp mưu (Thái thượng
hoàng và Hoàng thượng – TG), bầy tôi họp bàn há lại
không có kế sách gì chống giặc mà phải đợi đến ban
yến hỏi kế ở các phụ lão hay sao? Là vì Thánh Tông
muốn làm thế để xét lòng thành ủng hộ của dân chúng,
để dân chúng nghe theo lời dụ hỏi mà cảm kích hăng
hái lên thôi. Đó là giữ được cái nghĩa người xưa
nuôi người già để xin lời hay vậy”(9).
LỜI VÀNG
CỦA HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG
Sau hai
lần là Tổng tiết chế quân đội Đại Việt đại phá quân
Nguyên, năm Canh Tí (1300, niên hiệu Hưng Long năm
thứ 8), người anh hùng dân tộc, nhà văn hóa lớn, nhà
quân sự kiệt xuất của Việt Nam, danh tướng thế giới
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn qua đời ở tuổi 72.
Là một đại thần của triều Trần, người có vai trò
quyết định trong sự tồn vong của đất nước sau
“lưỡng hồi lao thạch mã”(10), sự ra
đi của Người là một tổn thất lớn cho dân tộc nói
chung và sự an nguy của chính quyền nhà Trần nói
riêng. Lo sợ sau cái chết của ông, trước lúc ông ra
đi, Vua Trần Anh Tông (1293-1314) trong một lần tới
thăm và hỏi rằng: “Nếu có sự không lành xảy ra
(ý nói lỡ Trần Quốc Tuấn qua đời) mà nhà
Nguyên lại sang xâm lấn thì chống cự bằng cách gì?”(11)
Quốc Tuấn
thưa: “phải khoan sức dân làm kế rễ sâu gốc vững,
ấy mới là thượng sách, không có gì hơn được”(12).
Lời
bàn:
Thái độ
ngang ngược của sứ thần Sài Thung và chính quyền nhà
Nguyên có thể hiểu là thái độ trịnh thượng của
“thiên triều” đối với “tiểu quốc”. Sự nhún nhường
một mức độ nào đó của vua quan nhà Trần cũng biểu
hiện thiện chí hòa hiếu ngàn năm của dân tộc ta đối
với một nước lớn như Trung Quốc. Nhưng mọi sự nhún
nhường cũng chỉ có giới hạn của nó. Trừng trị lũ
phản thần tặc tử Trần Ái Di thì chẳng có gì phải bàn,
bắn đui mắt sứ thần Trung Hoa là chuyện “xưa nay
hiếm” trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam. Vẫn
biết rằng như thế là phải đối mặt với một cuộc xâm
lăng mới của nhà Nguyên, nhưng hãy đặt lại lịch sử:
nếu không bắt đui mắt Sài Thung, liệu hai cuộc chiến
đó (1285 và 1287) có không xảy ra?
Quân
Nguyên lần thứ 2 xua quân xâm lược nước ta, bá quan
văn võ triều đình há chẳng phải là không có kế sách
đánh giặc? Triệu tập hội nghị bô lão để thể hiện
quyết tâm kháng chiến của quân dân Đại Việt không
phải là một gợi ý hay cho hậu thế khi thế nước lâm
nguy hay sao?
Hưng Đạo
Đại Vương là một tướng tài, người không chỉ có vai
trò quyết định đến thắng lợi của kháng chiến chống
Nguyên mà còn truyền “Binh thư yếu lược” và “Vạn
kiếp tổng bí truyền thư”(13) cho hậu thế.
Nhưng lời khuyên của Người trước lúc lâm trung mới
là điều đáng bàn. Hãy “khoan sức dân”, để có “kế sâu
bền gốc”. Bài học cổ nhân dạy cách đây 7 thế kỷ
không phải vẫn còn mang tính thời sự sao?
Ba câu
chuyện nhưng một chủ đề: Nhún nhường, mềm dẻo là
thượng sách trong đấu tranh ngoại giao của một nước
nhỏ với nước lớn (Việt Nam với Trung Hoa). Nhưng mọi
sự nhún nhường chỉ có những dưới hạn nhất định nếu
không sẽ trở thành những kẻ hèn nhát. “Dân vi bản”,
hãy để nhân dân quyết định vận mệnh dân tộc!
Quan quân
nhà Trần mềm dẻo nhưng cứng rắn, sáng suốt và một
lòng một dạ như vậy, dễ hiểu vì sao thời Trần (1225
- 1400), Việt Nam là một quốc gia cường thịnh. Cái
“hào khí Đông A(14)” ngày nào vẫn còn
vang vọng đâu đây.
Hội An,
Hè 2011
N.V.C.
Chú thích:
(1) Viện
KHXH Việt Nam, Đại Việt sử ký toàn thư (bản DPF),
Tr.187.
(2) Viện
KHXH Việt Nam, sđd, Tr.187.
(3) Quốc
sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám
cương mục (bản DPF), Tr 223.
(4) Viện
KHXH Việt Nam, sđd, Tr.187.
(5) Quỳnh
Cư, Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, NXB Thanh
niên, Hà Nội, 1995, Tr. 104.
(6) Các
vua Trần thường nhường ngôi cho con khi còn trẻ, sau
khi nhường ngôi thì được Hoàng thượng đương triều
phong là Thái thượng hoàng.
(7)
Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử giai thoại (toàn tập),
NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008, Tr. 198.
(8) Giặc
Hồ ý nói giặc Nguyên (Mông Cổ).
(9) Viện
KHXH Việt Nam, sđd, Tr. 190.
(10) Hai
câu thơ của vua Trần Nhân Tông.
“Xã tắc
lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà
thiên cổ điện kim âu”
(Xã tắc
hai phen chồn ngựa đá
Non sông
ngìn thủa vững âu vàng)
(11) Viện
KHXH Việt Nam Đại, sđd, Tr. 210.
(12) Viện
KHXH Việt Nam, sđd, Tr. 211.
(13) Hai
bộ binh pháp của Trần Hưng Đạo.
(14) Hào
khí của dân tộc Việt thời Lý - Trần. |